Ảnh minh họa cuộn màng cpp trong và túi hàn kín.
Màng CPP là màng polypropylene sản xuất bằng phương pháp đúc, thường được cân nhắc làm lớp hàn trong bao bì mềm. CPP khác với BOPP ở quy trình và đặc tính của từng dòng màng. Không nên đặt CPP bằng một yêu cầu chung mà bỏ qua điều kiện hàn và sản phẩm đóng gói.
Trong cấu trúc ghép, lớp ngoài có thể phục vụ in hoặc hỗ trợ cơ học, còn CPP nằm ở phía cần tạo mối hàn. Mã CPP được chọn phải phù hợp nhiệt độ, áp lực và thời gian hàn của máy. Chất lượng mối hàn cần được kiểm tra bằng mẫu bao bì thực tế, bao gồm vùng hàn có thể bị nhiễm bẩn bởi sản phẩm.
Thị trường có các dòng CPP được thiết kế cho các mục đích khác nhau. Mã chịu điều kiện xử lý đặc biệt hoặc mã mạ kim loại không được coi là tương đương CPP trong phổ thông. Nếu bao bì cần gia nhiệt sau đóng gói, hãy yêu cầu mã phù hợp và xác nhận đồng thời lớp ngoài, keo ghép, đường hàn.
Các thông tin cần trao đổi gồm độ dày, khổ, độ trượt, độ trong, mặt xử lý và yêu cầu hàn. Hệ số ma sát ảnh hưởng cấp màng; khả năng bám ghép ảnh hưởng độ ổn định cấu trúc. Không nên tự chọn mã chỉ vì cùng độ dày hoặc dùng một nhiệt độ hàn mặc định cho tất cả CPP.
Lựa chọn lớp hàn phụ thuộc sản phẩm, độ mềm mong muốn, cấu trúc ghép và dây chuyền. CPP và PE đều có nhiều biến thể nên phép so sánh phải dựa trên hai mã cụ thể. Nếu muốn thay vật liệu, cần thử khả năng hàn, độ bền túi và tính phù hợp bảo quản; không dùng tên nhựa để khẳng định mã nào luôn tốt hơn.
Cung cấp ứng dụng, cấu trúc hiện tại, máy đóng gói, điều kiện xử lý, độ dày, khổ và lượng mua. Nếu đang có lỗi, ghi vị trí hàn yếu, kiểu rò rỉ và điều kiện chạy máy. Mẫu đã đóng gói cùng dữ liệu thử giúp trao đổi nguyên nhân rõ hơn. Tiêu chuẩn tiếp xúc thực phẩm và chứng từ phải được xác nhận cho mã sử dụng.
Liên hệ Zalo Vật Tư Xưởng và gửi quy cách hoặc mẫu tham khảo để trao đổi yêu cầu. Giá, mã màng, số lượng tối thiểu và thời gian giao hàng được xác nhận theo từng yêu cầu.
Xem thêm màng nguyên liệu sản xuất bao bì và Màng PE nguyên liệu bao bì – LDPE, LLDPE và lớp hàn.